ỦY BAN NHÂN DÂN XÃ HÀ TÂY TRÂN TRỌNG GIỚI THIỆU TÓM TẮT DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA CẤP QUỐC GIA ĐỀN AN LIỆT VÀ PHƯỜNG RỐI NƯỚC THANH HẢI Xã Hà Tây có diện tích tự nhiên là 24,41 km², quy mô dân số là 34.187 người và được thành lập trên cơ sở sáp nhập toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của xã Tân An (cũ), xã An Phượng (cũ) và một phần diện tích tự nhiên, quy môn dân số của xã Thanh Hải (cũ). Xã có vị trí địa lý, giao thông thuận lợi, nằm trên tuyến đường Quốc lộ 390A tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; phía bắc giáp xã Hà Bắc và phường Ái Quốc, phía Đông giáp xã Thanh Hà, phía Nam giáp xã Chí Minh và xã Hưng Đạo, phía Tây giáp phường Nam Đồng và xã Hưng Đạo; xã có 14/14 thôn đạt thôn văn hóa, các điểm trạm y tế đều đạt chuẩn Quốc gia về y tế, ba cấp học trên địa bàn gồm Trường THCS, Tiểu học và Mầm non, được công nhận trường chuẩn Quốc gia, xã có Phường rối nước được công nhận là điểm du lịch cấp tỉnh năm 2025, hàng năm đón hàng nghìn lượt khách nội địa và khách Quốc tế. Xã có 03 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia, 01 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và hệ thống các di tích như: đền, chùa, miếu, đình cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Điển hình cho các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo tại địa phương là Di tích được xếp hạng cấp Quốc gia Đền An Liệt. Đền An Liệt nằm trên vùng đất thôn An Liệt xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương cũ; (nay là thôn An Liệt xã Hà Tây, thành phố Hải Phòng) được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận cấp bằng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia năm 1995. Đền An Liệt nằm trên khu đất đẹp nhất, thế đất “Quần long hội thủy”, không phải ngẫu nhiên dân làng từ xa xưa đã chọn vị trí này xây dựng cả Đền - Đình - Chùa. Trong bài Bình minh chuông (Chuông đúc năm 1740 có ghi): “Ban đêm thấy các vì sao trên trời lấp lánh dưới mặt nước trùng trùng điệp điệp quanh cửa chùa thành chín khúc”. Đền An Liệt thờ Ngũ Vị Đại Vương có công đánh giặc chiều Lê, được Vua phong là Thành hoàng làng để dân làng thờ phụng. Các đại vương đều là võ tướng tài tình có tài thao lược, khi hóa thân lại linh ứng giúp Vua an dân, các Đại Vương có tên là: Đại Minh chiêu cư sĩ Sĩ Vương. Đoàn tướng công Đại Vương đại thần. Đào Bạt tướng công. Vực Lao tướng công. Đặng Lật tướng công. Hàng năm cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương Tổ chức Lễ hội chính vào ngày 22 tháng 1 âm lịch. Tại lễ hội truyền thống có đốt Cây Bông từ khá lâu đời, gần đây tục lệ này lại được khôi phục, ngoài ra còn diễn các trò chơi truyền thống như: Đấu vật, cầu thùm, cờ tướng, bắt vịt… PHƯỜNG RỐI NƯỚC THANH HẢI - MANG HỒN VIỆT RA THẾ GIỚI Múa rối có ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng múa rối nước thì chỉ duy nhất có ở Việt Nam. Đây là một loại hình nghệ thuật sân khấu mang đậm chất truyền thống, bình dị mà thân thương. Tại Hải Phòng, không thể không nhắc đến phường rối nước Thanh Hải - nơi có lịch sử 300 năm với loại hình nghệ thuật truyền thống ấy. 1. Múa rối nước là gì? Múa rối nước ra đời vào khoảng hơn 10 thế kỷ trước ở vùng châu thổ sông Hồng. Loại hình này thường diễn vào dịp lễ, hội làng, ngày vui, ngày Tết,… với việc dùng con rối diễn trò, diễn kịch trên mặt nước. Trò rối nước cũng được coi là nét văn hóa phi vật thể đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Múa rối nước là trò khéo lấy động tác làm ngôn ngữ diễn đạt, rối nước gắn bó với âm nhạc như nghệ thuật múa. Âm nhạc điều khiển tốc độ, giữ nhịp, dẫn dắt động tác, gây không khí với tiết tấu truyền thống giữ vai trò chủ đạo của trò rối nước, nhạc rối nước thường sử dụng các làn điệu chèo hoặc dân ca đồng bằng Bắc Bộ. Với tính đặc sắc của mình, múa rối nước từ chỗ chỉ là 1 loại hình nghệ thuật mang yếu tố dân gian đã nhanh chóng trở thành nghệ thuật truyền thống, có thể sánh ngang với tuồng, chèo, cải lương - những bộ môn nghệ thuật có vị trí cao trong nền sân khấu dân tộc. 2. Phường rối nước Thanh Hải Phường rối nước Thanh Hải, huyện Thanh Hà (nay là xã Hà Tây, Thành phố Hải Phòng) có lịch sử hơn 300 năm tuổi. Ngày trước, rối làng rất phát triển. Tuy nhiên, trong những năm kháng chiến chống Pháp, khói lửa chiến tranh đã nhấn chìm cả phường rối. Các nghệ nhân đều đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, rời tay con rối để cầm súng bảo vệ quê hương. Mãi tới thập kỷ 90 của thế kỷ trước, phường rối Thanh Hải mới được khôi phục và phát triển cho đến tận bây giờ. Có thể thấy, rối nước Thanh Hải có được thành công như ngày hôm nay, trước tiên là nhờ công lao của những nghệ nhân tâm huyết với nghề. Tiếp đó là nhờ sức trẻ và nhiệt huyết của các thế hệ kế cận. Bằng tình yêu với những con rối, họ đã vực dậy sức sống của bộ môn nghệ thuật truyền thống của cha ông. Bí quyết của nghệ thuật múa rối nước Thanh Hải, trước hết là chế tác ra con trò sao cho nó có thể quay người, quay cổ uyển chuyển. Rối tốt nhất là được làm bằng gỗ sung, sau đó được đục đẽo với những đường nét cách điệu riêng rồi gọt giũa, đánh bóng. Cuối cùng là trang trí bằng nhiều màu sơn khác nhau để làm tôn thêm đường nét tính cách cho từng nhân vật. Hình thù của con rối thường tươi tắn, ngộ nghĩnh, tính hài và tính tượng trưng cao. Phần thân rối là phần nổi lên mặt nước để thể hiện nhân vật, còn phần đế là phần chìm dưới mặt nước nhằm giữ cho rối nổi bên trên và là nơi lắp máy điều khiển cho quân rối cử động. Khi biểu diễn, người điều khiển cần gắn các động tác con rối thật khớp với nhạc, trống và lời ca. Một trong những điểm độc đáo của phường rối xã Thanh Hải là ở típ trò của các thành viên trong phường rối sáng tác ra. Nội dung chủ yếu của các típ trò là phản ánh về sinh hoạt đời sống bình dị của người dân Đồng bằng Bắc Bộ xa xưa. Có thể kể đến như: “Hội thi xuống đồng”, “Vinh quy bái tổ”, “Pháo chạy chuột”,… ***** |